Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 duy trì tăng trưởng ổn định.

Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, an toàn sinh học với tổng đàn lợn tại thời điểm cuối tháng 6/2026 ước tăng 2,2%, tổng đàn gia cầm ước tăng 3,1%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 2,86 triệu tấn, tăng 4,8%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 1,3 triệu tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi, chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm đàn nhưng vẫn duy trì tăng trưởng về sản lượng thịt, với tổng đàn bò ước giảm 2,8%, tổng đàn trâu giảm 6,6%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm ước đạt 267,8 nghìn tấn, tăng 1,3%; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 67,6 nghìn tấn, tăng 1,6%.

Nhìn chung, chăn nuôi 6 tháng đầu năm phát triển ổn định; dịch bệnh được kiểm soát, mô hình chăn nuôi quy mô lớn và an toàn sinh học tiếp tục mở rộng, góp phần duy trì tăng trưởng sản lượng sản phẩm chăn nuôi, đặc biệt là thịt lợn và thịt gia cầm. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm đàn do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô xanh giảm, trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao. Tình hình cụ thể:

Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn duy trì tăng trưởng ổn định, chi phí thức ăn chăn nuôi, con giống và thuốc thú y vẫn ở mức cao khiến hoạt động tái đàn tại khu vực chăn nuôi nông hộ còn diễn ra thận trọng. Tại thời điểm cuối tháng 6/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có số lượng đầu con tăng khá như Lâm Đồng tăng 5,5%; TP. Hồ Chí Minh tăng 4,5%; Đồng Nai tăng 4,2%; Phú Thọ tăng 3,8%; Bắc Ninh tăng 3,1%. Tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2,86 triệu tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; riêng quý 2 ước đạt 1,42 triệu tấn, tăng 4,7%.

Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển tốt nhờ chu kỳ nuôi ngắn giúp khả năng quay vòng vốn nhanh, các mô hình chăn nuôi theo hướng trang trại, an toàn sinh học được duy trì và phát triển. Tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng 6/2026 ước tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1,3 triệu tấn, tăng 5,6%; sản lượng trứng gia cầm đạt 10,8 tỷ quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng thịt gia cầm tăng khá như TP. Cần Thơ tăng 8,5%; Lâm Đồng tăng 7,2%; Nghệ An tăng 7,1%; Đắk Lắk tăng 6,8%; Quảng Trị tăng 6,7%.

Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò có xu hướng giảm đàn do hiệu quả kinh tế thấp, diện tích chăn thả tự nhiên bị thu hẹp, nguồn thức ăn thô xanh giảm, trong khi giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao. Tổng đàn trâu của cả nước tại thời điểm cuối tháng 6/2026 ước giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò giảm 2,8%, trong đó đàn bò sữa giảm 0,8%. Mặc dù quy mô đàn giảm, việc cải thiện giống và áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiếp tục góp phần duy trì sản lượng ổn định. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 67,6 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 267,8 nghìn tấn, tăng 1,3%; sản lượng sữa bò tươi đạt 683,7 nghìn tấn, tăng 5,2%.

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2026 ước đạt 68,4 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026 đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 100,7 triệu USD, tăng 97,2%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 108,9 triệu USD, tăng 8,8%.

Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2026 ước đạt 479,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026 đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 797 triệu USD, tăng 9,6%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,12 tỷ USD, tăng 27,4%.

Về thú y: Tình hình dịch bệnh động vật 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như sau:

Về bệnh Dịch tả lợn châu Phi: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cả nước xảy ra 697 ổ dịch tại 28 tỉnh, thành phố. So với cùng kỳ năm trước, số địa phương có dịch tăng 01 tỉnh, thành phố; số ổ dịch tăng 59,5%. Tổng số lợn mắc bệnh là 94.583 con, tăng 44,2% so với cùng kỳ năm trước; số con chết, bị tiêu hủy là 96.134 con, tăng 48,3%.

Về bệnh Cúm gia cầm: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cả nước xảy ra 50 ổ dịch tại 15 tỉnh, thành phố. So với cùng kỳ năm trước, số địa phương có dịch tăng 8 tỉnh, thành phố; số ổ dịch tăng 3,8 lần. Tổng số gia cầm mắc bệnh là 223.914 con, tăng 8,3 lần so với cùng kỳ năm trước; số con chết, bị tiêu hủy là 239.871 con, tăng 7,7 lần.

Về dịch bệnh Lở mồm long móng: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cả nước xảy ra 13 ổ dịch tại 7 tỉnh, thành phố. Số địa phương có dịch tương đương cùng kỳ năm trước, trong khi số ổ dịch giảm 18,2%. Tổng số gia súc mắc bệnh là 167 con, giảm 35,3% so với cùng kỳ năm trước; số con chết, bị tiêu hủy là 14 con, giảm 61,1%.

Về bệnh Viêm da nổi cục: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cả nước xảy ra 42 ổ dịch tại 9 tỉnh, thành phố. So với cùng kỳ năm trước, số địa phương có dịch tăng 02 tỉnh, thành phố, trong khi số ổ dịch giảm 4,5%. Tổng số gia súc mắc bệnh là 169 con, tăng 69% so với cùng kỳ năm trước; số con chết, bị tiêu hủy là 84 con, tăng 2,1 lần.

Về bệnh Dại động vật: Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, cả nước xảy ra 126 ổ dịch tại 20 tỉnh, thành phố. So với cùng kỳ năm trước, số địa phương có dịch giảm 02 tỉnh, thành phố, trong khi số ổ dịch tăng 2,4%. Tổng số động vật mắc bệnh là 160 con, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước; số con chết, bị tiêu hủy là 217 con, tăng 23,3%.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI

+ Thịt lợn: Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động giảm trong tháng 6/2026. So với tháng 5/2026, giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 1.000 đồng/kg xuống 66.000 – 67.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên giảm 4.000 đồng/kg, dao động trong khoảng 62.000 – 66.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam giảm 6.400 đồng/kg, hiện đang ở mức 61.000 – 63.000 đồng/kg. Giá lợn hơi giảm do áp lực nguồn cung và sức mua yếu.

+ Thịt gà: Giá thu mua gà thịt lông màu biến động khác nhau tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giữ mức 48.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung tăng 2.600 đồng/kg, hiện ở mức 46.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam tăng 3.000 đồng/kg lên 48.000 đồng/kg.

Giá gà công nghiệp biến động tăng tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc tăng 6.000 đồng/kg lên 35.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung tăng 4.000 đồng/kg lên mức 28.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Nam tăng 1.000 đồng/kg, hiện là 25.000 đồng/kg.

+ Trứng gia cầm: Giá thu mua trứng gà ổn định tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc ổn định ở mức 1.300 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung hiện ở mức 1.630 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam giữ mức 1.430 đồng/quả. Giá trứng ở mức thấp do nguồn cung dồi dào.

+ Sản phẩm chăn nuôi thế giới: Trong tháng 6/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 7/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động giảm với mức giảm 5,675 US cent/lb xuống 93,825 US cent/lb. Giá thịt lợn giảm do nguồn cung thịt lợn tăng so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá bò hơi kỳ hạn tháng 8/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) giảm 4,675 US cent/lb xuống 243,575 US cent/lb. Giá bò hơi giảm do báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cho thấy số lượng gia súc giết mổ tăng trong ngắn hạn.

+ Thức ăn chăn nuôi

Cám gạo: Giá cám gạo tại ĐBSCL hiện tại đã tăng 200 – 400 đồng/kg so với tháng 5/2026 do nguồn cung hạn chế. So với tháng 5/2026, giá cám khô hiện đã tăng 400 đồng/kg, đạt 7.900 đồng/kg; cám hỗn hợp tăng 300 đồng/kg, đạt 7.700 đồng/kg; cám ướt tăng 200 đồng/kg, đạt 7.600 đồng/kg.

Sắn lát: Giá ngô đang duy trì ở mức thấp đã tạo áp lực lên giá bán sắn lát. Trong khi đó, lãi suất ngân hàng tăng trong thời gian gần đây đã khiến một số đơn vị vay tiền ngân hàng mua sắn lát trữ kho bị tăng giá vốn lên khá nhiều. Mặc dù tồn kho sắn lát của Việt Nam không lớn, tuy nhiên, diễn biến giá đầu ra lại không tăng. Hiện giá sắn lát xuất khẩu (FOB Quy Nhơn/Hồ Chí Minh) đang duy trì ở mức 320 USD/tấn sang Hàn Quốc và 265 USD/tấn sang Trung Quốc.

Tại thị trường Chicago (Mỹ), giá đậu tương và giá ngô giao kỳ hạn tháng 7/2026 giảm so với tháng 5/2026 do chịu tác động kép từ đà giảm của giá dầu thô và hoạt động thanh lý vị thế hàng hóa trước khi các báo cáo quan trọng về diện tích gieo trồng và tồn kho của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) được công bố. Trong tháng 6/2026, hợp đồng đậu tương giao tháng 7/2026 giảm 73 Us cent/bushel13 so với tháng 5/2026, đạt 1128,6 Us cent/bushel; hợp đồng ngô giao tháng 7/2026 giảm 50 Us cent/bushel, đạt 418,2 Us cent/bushel.

THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU 

– Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2026 ước đạt 68,4 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026 đạt 375,8 triệu USD, tăng 34,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 100,7 triệu USD, tăng 97,2%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 108,9 triệu USD, tăng 8,8%.

– Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2026 ước đạt 479,3 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2026 đạt 2,73 tỷ USD, tăng 26,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 797 triệu USD, tăng 9,6%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,12 tỷ USD, tăng 27,4%.

– Thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 6 năm 2026 ước đạt 444,7 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 2,2 tỷ USD, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Hoa Kỳ, Áchentina và Trung Quốc với thị phần lần lượt là 21,1%, 18,1% và 12,8%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 5 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 14,6%, thị trường Trung Quốc tăng 69,1%, trong khi thị trường Áchentina giảm 62,1%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Canađa với mức tăng 5,1 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Áchentina với mức giảm 62,1%

– Nhập khẩu ngô: Khối lượng nhập khẩu ngô tháng 6 năm 2026 ước đạt 1,7 triệu tấn với giá trị đạt 428,9 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 6 tháng đầu năm 2026 đạt 6,9 triệu tấn và 1,75 tỷ USD, tăng 56,1% về khối lượng và tăng 51,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá ngô nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 252,1 USD/tấn, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2025.

Braxin và Áchentina là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 43,7% và 31,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu ngô 5 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 2,3 lần, trong khi thị trường Áchentina giảm 19,4%.

– Nhập khẩu đậu tương: Khối lượng nhập khẩu đậu tương tháng 6 năm 2026 ước đạt 181,4 nghìn tấn với giá trị đạt 91 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 6 tháng đầu năm 2026 đạt 1,9 triệu tấn và 901 triệu USD, tăng 53,7% về khối lượng và tăng 61,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 480,1 USD/tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2025.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Braxin và Hoa Kỳ với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 51,6% và 39,1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu đậu tương 5 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 2,5 lần và thị trường Hoa Kỳ tăng 53,7%.

– Nhập khẩu lúa mì: Khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 6 năm 2026 ước đạt 392,4 nghìn tấn với giá trị đạt 107 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu lúa mì 6 tháng đầu năm 2026 đạt 4,8 triệu tấn và 1,23 tỷ USD, tăng 56,4% về khối lượng và tăng 51,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 258,5 USD/tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm 2025.

Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam là từ các thị trường Ôxtrâylia, Braxin, Canađa, và Hoa Kỳ với thị phần lần lượt là 14,5%, 9,7%, 9,1%, và 5,5%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu lúa mì 5 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Ôxtrâylia giảm 7,4%, thị trường Braxin giảm 57,3%, thị trường Canađa tăng 81%, và thị trường Hoa Kỳ giảm 34%.

Nguồn: Channuoivietnam.com

error: Content is protected !!