Tình hình chăn nuôi cả nước tháng 9/2026
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tình hình sản xuất chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 có sự biến động trái chiều. Chăn nuôi lợn và gia cầm duy trì xu hướng phát triển ổn định cả về số đầu con và sản lượng thịt hơi xuất chuồng.

Tại thời điểm cuối tháng 9 năm 2026, tổng đàn lợn ước tăng 5,4%, đàn gia cầm ước tăng 3,1%; tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 4,28 triệu tấn, tăng 4,4%; thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 2,02 triệu tấn, tăng 5,3%. Trong khi đó, chăn nuôi trâu, bò tiếp tục có xu hướng giảm đàn, tuy nhiên, sản lượng thịt hơi xuất chuồng và sữa bò tươi vẫn tăng. Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục có xu hướng giảm đàn do sản xuất được cơ giới hóa làm giảm nhu cầu sử dụng làm sức kéo, diện tích đồng cỏ và bãi chăn thả thu hẹp, thời gian nuôi dài, vốn đầu tư lớn. Tình hình cụ thể:
Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn tiếp tục duy trì đà phục hồi nhờ giá lợn hơi xuất chuồng có xu hướng tăng, tạo điều kiện để người chăn nuôi duy trì sản xuất và tái đàn.
Quy mô đàn lợn tăng hiện nay chủ yếu phản ánh quá trình phục hồi và tái đàn sau dịch, đồng thời cho thấy xu hướng chuyển dịch sang chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô trang trại và liên kết chuỗi. Tuy nhiên, giá thức ăn chăn nuôi nhiều lần điều chỉnh tăng trong 9 tháng, làm gia tăng chi phí đầu vào và gây áp lực đến hiệu quả chăn nuôi. Tính đến cuối tháng 9/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có số lượng đầu con tăng khá như Gia Lai tăng 13,2%; Tuyên Quang tăng 12,2%; Phú Thọ tăng 10,5%; TP. Hồ Chí Minh tăng 5,9%. Tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4,28 triệu tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển tốt nhờ chu kỳ nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh, dễ điều chỉnh quy mô sản xuất theo nhu cầu thị trường. Các mô hình chăn nuôi trang trại, liên kết doanh nghiệp, chuồng kín, tự động hóa và an toàn sinh học tiếp tục được mở rộng. Tổng đàn gia cầm của cả nước tại thời điểm cuối tháng 9/2026 ước tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà tăng 3,5%. Một số địa phương có đàn gia cầm tăng khá như Nghệ An tăng 7,0%; TP. Hồ Chí Minh tăng 6,3%; Tây Ninh tăng 5,6%; Thanh Hóa tăng 4,8%; Đồng Nai tăng 4,6%; Bắc Ninh tăng 4,4%. Tổng sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2,02 triệu tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 15,71 tỷ quả, tăng 1,9%.
Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục có xu hướng giảm đàn do cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp làm giảm nhu cầu sử dụng sức kéo, diện tích đồng cỏ và bãi chăn thả thu hẹp, thời gian nuôi dài, vốn đầu tư lớn, khả năng quay vòng vốn chậm và thiếu lao động. Tổng đàn trâu của cả nước tại thời điểm cuối tháng 9/2026 ước giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò giảm 1,6%. Mặc dù quy mô đàn giảm, việc chuyển sang chăn nuôi tập trung, nuôi nhốt, cải tạo giống và áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiếp tục góp phần duy trì sản lượng. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 98,6 nghìn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 396,4 nghìn tấn, tăng 1,3%; sản lượng sữa bò tươi đạt gần 1,01 triệu tấn, tăng 5%.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2026 ước đạt 63,9 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 156,8 triệu USD, tăng 67,6%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 170,9 triệu USD, tăng 15,4%.
Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2026 ước đạt 430,8 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 4 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 1,18 tỷ USD, tăng 11,2%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,6 tỷ USD, tăng 12,7%.
Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 9 năm 2026 ước đạt 382,7 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 9 tháng đầu năm 2026 đạt 3,43 tỷ USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Về thú y: Tình hình dịch bệnh động vật 9 tháng đầu năm 2026 như sau:
Về bệnh Dịch tả lợn châu Phi: Lũy 9 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 1.051 ổ dịch tại 679 xã, với số hộ có dịch là 11.809 hộ. Tổng số lợn mắc bệnh là 142.703 con; số lợn chết và bị tiêu hủy là 145.950 con.
Về bệnh Cúm gia cầm: Lũy kế 9 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 118 ổ dịch tại 99 xã, với số hộ có dịch là 275 hộ. Tổng số gia cầm mắc bệnh là 459.515 con; số gia cầm chết và bị tiêu hủy là 492.860 con.
Về bệnh Viêm da nổi cục: Lũy kế 9 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 94 ổ dịch tại 85 xã, với số hộ có dịch là 679 hộ. Tổng số gia súc mắc bệnh là 952 con; số gia súc chết và bị tiêu hủy là 307 con.
Về bệnh Lở mồm long móng: Lũy kế 9 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 23 ổ dịch tại 23 xã, với số hộ có dịch là 154 hộ. Tổng số gia súc mắc bệnh là 334 con; số gia súc chết và bị tiêu hủy là 21 con.
Về bệnh Dại động vật: Lũy kế 9 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 174 ổ dịch tại 134 xã, với số hộ có dịch là 175 hộ. Tổng số động vật mắc bệnh là 213 con; số động vật chết và bị tiêu hủy là 304 con.
THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI
+ Thịt lợn: Tháng 9/2026, giá thu mua lợn hơi trong nước biến động giảm tại cả ba miền với mức giảm 1.000 đồng/kg. Cụ thể, giá lợn hơi tại miền Bắc dao động trong khoảng 57.000 – 59.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tại miền Trung – Tây Nguyên 56.000 – 58.000 đồng/kg. Giá lợn hơi tại miền Nam hiện đang ở mức 56.000 – 58.000 đồng/kg. Nguồn cung tăng trong khi nhu cầu chưa cải thiện rõ rệt khiến giá lợn hơi giảm nhẹ. Dự báo giá lợn hơi trong ngắn hạn sẽ tiếp tục xu hướng giảm nhẹ hoặc đi ngang trong khoảng 56.000 – 59.000 đồng/kg.
+ Thịt gà: Giá thu mua gà thịt lông màu biến động trái chiều tại ba miền trên cả nước. Giá gà thịt lông màu miền Bắc tăng 11.000 đồng/kg lên mức 69.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung giảm 2.000 đồng/kg, hiện ở mức 43.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam giảm 2.000 đồng/kg xuống 45.000 đồng/kg.
Giá thu mua gà công nghiệp biến động trái chiều tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc giảm 5.000 đồng/kg xuống 32.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung và miền Nam tăng 4.000 đồng/kg, hiện là 27.000 đồng/kg. Dự báo giá gà thịt từ nay đến cuối năm 2026 sẽ hồi phục và tăng trở lại do nhu cầu tiêu thụ dịp cuối năm tăng cao.
Giá thu mua trứng gà ổn định tại ba miền. Giá trứng gà miền Bắc ở mức 2.100 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung 1.880 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam 1.730 đồng/quả. Dự báo giá trứng sẽ tăng nhờ vào nhu cầu tiêu thụ của các bếp ăn học sinh, nhu cầu lễ hội, cưới hỏi và chế biến thực phẩm cuối năm.
+ Thức ăn chăn nuôi:
Giá cám gạo tại ĐBSCL trong tháng 9/2026 giảm khoảng 74 đồng/kg so với tháng 8/2026 do nguồn cung dồi dào từ hoạt động xay xát trong nước và từ Campuchia về khá nhiều trong khi nhu cầu trên thị trường thấp và giao dịch diễn ra chậm. Theo đó, giá thu mua cám gạo tại ĐBSCL hiện đạt 7.465 đồng/kg.
Giá xuất khẩu sắn lát đã tăng thêm 5 USD/tấn trong khi chi phí logistic cao, giá bán chưa được khách hàng Trung Quốc chấp nhận tăng tương ứng, điều này có thể làm thay đổi cách thức mua hàng của một số đơn vị kinh doanh sắn lát từ gom hàng vào các kho lớn tập trung sang tổ chức xuất hàng từ nhiều địa điểm khác nhau để giảm chi phí trung chuyển. Với giá bán nội địa trên 5,5 triệu đồng/tấn giao tới các nhà máy thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam, một số nhà máy trong nước đã phải thay đổi công thức, giảm tỷ lệ phối trộn sắn lát nhằm giảm giá thành sản xuất sản phẩm thức ăn chăn nuôi. Dự báo, đây có thể là mùa vụ khó khăn nhất đối với các đơn vị kinh doanh sản phẩm này.
Thức ăn chăn nuôi thành phẩm: Từ đầu tháng 9/2026, giá bán một số nhóm sản phẩm được điều chỉnh tăng. Mức tăng phổ biến khoảng 200 – 400 đồng/kg đối với thức ăn cho lợn, 300 – 400 đồng/kg đối với thức ăn gia cầm và 500 – 1.500 đồng/kg đối với thức ăn thủy sản. Giá thức ăn chăn nuôi được điều chỉnh tăng do giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu tăng đã khiến chi phí đầu vào tăng.
Trong tháng 9/2026, giá ngô và đậu tương trên sàn giao dịch hàng hóa Chicago, Mỹ tăng so với tháng 8/2026 do lo ngại ngày càng trầm trọng về nguồn cung thắt chặt tại Mỹ và tín hiệu nhu cầu tích cực. Bên cạnh đó, diễn biến tại Biển Đen, thời tiết tại các vùng sản xuất lớn và triển vọng mùa vụ Mỹ tiếp tục là những yếu tố có khả năng chi phối giá trong thời gian tới.
Trong tháng 9/2026, giá đậu tương hợp đồng kỳ hạn tháng 11/2026 đạt 1315,7 Us cent/bushel8, tăng 100,4 Us cent/bushel so với tháng 8/2026. Giá ngô hợp đồng kỳ hạn tháng 12/2026 đạt 533,7 Us cent/bushel, tăng xấp xỉ 41 Us cent/bushel so với tháng 8/2026.
+ Sản phẩm chăn nuôi:
Trong tháng 9/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 10/2026 giao dịch trên sàn Chicago, Mỹ biến động giảm với mức giảm 5,45 US cent/lb xuống còn 78,225 US cent/lb. Giá thịt lợn giảm do báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho thấy số lượng lợn được giết mổ tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, báo cáo cũng cho thấy lượng tồn kho thịt lợn vào cuối tháng 8/2026 đạt 436,27 triệu pound, tăng 12,03% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá bò hơi kỳ hạn tháng 10/2026 giao dịch trên sàn Chicago, Mỹ tăng 6,2 US cent/lb lên 218,875 US cent/lb. Giá bò hơi tăng do USDA ước tính số lượng bò bị giết mổ giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm tra của Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ đã gây gián đoạn hoạt động tại một số nhà máy chế biến thịt bò, gây đứt gãy chuỗi cung ứng thịt bò và khiến giá bò tăng.
THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU
– Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2026 ước đạt 63,9 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 156,8 triệu USD, tăng 67,6%; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 170,9 triệu USD, tăng 15,4%.
– Giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 9 năm 2026 ước đạt 430,8 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 4 tỷ USD, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 1,18 tỷ USD, tăng 11,2%; nhập khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,6 tỷ USD, tăng 12,7%.
– Thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu: Giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 9 năm 2026 ước đạt 382,7 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 9 tháng đầu năm 2026 đạt 3,43 tỷ USD, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Nguồn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chính là các thị trường Áchentina, Hoa Kỳ và Braxin với thị phần lần lượt là 23,1%, 19,7% và 12%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 8 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Áchentina giảm 40,6%, thị trường Braxin giảm 2,8%, trong khi thị trường Hoa Kỳ tăng 16%. Trong nhóm 15 thị trường nhập khẩu lớn nhất, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh nhất ở thị trường Đức với mức tăng 2,3 lần và giảm mạnh nhất ở thị trường Áchentina với mức giảm 40,6%.
– Nhập khẩu ngô: Khối lượng nhập khẩu ngô tháng 9 năm 2026 ước đạt 811,9 nghìn tấn với giá trị đạt 208,2 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2026 đạt 10,2 triệu tấn và 2,59 tỷ USD, tăng 24,7% về khối lượng và tăng 25,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá ngô nhập khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 253,9 USD/tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Áchentina và Braxin là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 45,1% và 25,3%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu ngô 8 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Áchentina tăng 13,6% và thị trường Braxin tăng 64,4%.
– Nhập khẩu đậu tương: Khối lượng nhập khẩu đậu tương tháng 9 năm 2026 ước đạt 123,3 nghìn tấn với giá trị đạt 65,2 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 9 tháng đầu năm 2026 đạt 2,7 triệu tấn và 1,32 tỷ USD, tăng 38,4% về khối lượng và tăng 45,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 488,4 USD/tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Braxin và Hoa Kỳ với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 61,8% và 31,2%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu đậu tương 8 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 60,2% và thị trường Hoa Kỳ tăng 43,1%.
– Nhập khẩu lúa mì: Khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 9 năm 2026 ước đạt 507,1 nghìn tấn với giá trị đạt 150 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu lúa mì 9 tháng đầu năm 2026 đạt 5,9 triệu tấn và 1,56 tỷ USD, tăng 40% về khối lượng và tăng 38,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 265,2 USD/tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam là từ các thị trường Ôxtrâylia, Canađa, Braxin, và Hoa Kỳ với thị phần lần lượt là 18,4%, 10,9%, 7,7%, và 6,8%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu lúa mì 8 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Ôxtrâylia giảm 10,1%, thị trường Braxin giảm 57,3%, thị trường Hoa Kỳ giảm 25,6%, trong khi thị trường Canađa tăng 32,4%.
Theo channuoivietnam.vn
