Áp lực cung vượt cầu bóp nghẹt biên lợi nhuận ngành gia cầm quý I và II/2026
Trong quý I và đầu quý II/2026, thị trường gia cầm nội địa sụt giảm mạnh do áp lực dư cung cục bộ. Giá thu mua gà, vịt và trứng tại chuồng liên tục lao dốc, khiến người chăn nuôi chịu thua lỗ kéo dài.

Khủng hoảng thừa nguồn cung: Hệ lụy từ cuộc đua tăng đàn và sức mua yếu
Theo kết quả khảo sát thị trường của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, giá sản phẩm gia cầm hai tháng qua (tháng 4 và 5) liên tục chạm đáy mới. Khủng hoảng cung vượt cầu lần này xuất phát trực tiếp từ làn sóng mở rộng quy mô tổng đàn ồ ạt của các doanh nghiệp FDI và tập đoàn sản xuất thức ăn chăn nuôi từ cuối năm 2025. Ngược lại, sức mua tại thị trường nội địa hồi phục không như kỳ vọng, tạo ra mức chênh lệch cung – cầu nghiêm trọng.
Bảng tổng hợp giá sản phẩm gia cầm tại trại (Tháng 5 – Đầu tháng 6/2026)
| Chủng loại | Khu vực | Tháng 5/2026 (VNĐ/kg) | 2 Tuần Đầu 6/2026 (VNĐ/kg) | Diễn biến thị trường sau chuẩn hóa |
| Gà Ri lai | Miền Bắc | 50.500 – 52.000 | 51.000 – 54.000 | Tiêu thụ tương đối ổn định |
| Miền Trung | 46.000 – 48.000 | 47.000 – 48.000 | Tương đối ổn định | |
| Miền Nam | 45.000 – 46.500 | 45.000 – 46.500 | Đi ngang | |
| Gà Mía | Miền Bắc | 49.500 – 51.000 | 49.500 – 50.000 | Suy giảm nhẹ cuối tháng 5 |
| Miền Trung | 46.000 – 47.000 | 46.000 – 47.000 | Tương đối ổn định | |
| Miền Nam | 44.500 – 45.500 | 44.000 – 45.000 | Đi ngang, tiêu thụ chậm | |
| Gà lông màu nuôi công nghiệp | Miền Bắc | 44.500 – 46.500 | 44.000 – 46.000 | Xu hướng giảm nhẹ do nắng nóng |
| Miền Trung | 42.000 – 44.000 | 41.500 – 43.500 | Tồn kho tại trại tăng cao | |
| Miền Nam | 43.500 – 44.500 | 43.000 – 44.000 | Nguồn cung dồi dào, chợ chậm | |
| Gà trắng (CN) | Miền Bắc | 32.000 – 33.000 | 34.000 – 36.000 | Thiếu cung cục bộ, giá phục hồi tốt |
| Miền Trung | 25.000 – 26.500 | 29.500 – 32.000 | Đảo chiều tăng theo miền Bắc | |
| Miền Nam | 26.000 – 27.500 | 23.000 – 25.000 | Nguồn cung tăng, giá chạm đáy | |
| Vịt thịt | Miền Bắc | 25.00 – 33.000 | 43.000 – 46.000 | Sức mua tăng mạnh đầu mùa hè cuối tháng 5 đầu tháng 6. |
| Miền Trung | 30.000 – 31.000 | 30.000 – 35.000 | Biên độ dao động rộng | |
| Miền Nam / ĐBSCL | 31.000 – 32.000 | 34.000 – 35.000 | Nhích nhẹ vào tuần 2 tháng 6 | |
| Trứng gà CN
(đông/quả) |
Miền Bắc | 1.400 – 1.600 | 1.600 – 1.800 | Nhích nhẹ nhưng vẫn dưới giá thành |
| Miền Trung | 1.500 – 1.600 | 1.600 – 1.650 | Ổn định ở mức thấp | |
| Miền Nam | 1.200 – 1.400 | 1.500 – 1.700 | Hồi phục nhẹ từ đáy tiêu thụ |
Giá thu mua các sản phẩm gia cầm tại trại trên cả nước trong tháng 5 và đầu tháng 6 năm 2026 ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt và biến động trái chiều giữa hai miền Nam – Bắc. Trong khi thị trường gà màu và trứng vẫn neo ở mức thấp do sức mua yếu, giá gà trắng tại miền Bắc lại có xu hướng nhích nhẹ vì khan hiếm nguồn cung cục bộ. Tại miền Bắc giá gà trắng duy trì được mức tốt hơn nhờ nguồn cung có phần thiếu hụt tạm thời. Tại miền Nam và Đông Nam Bộ chịu áp lực dư thừa nguồn cung nặng nề nhất. Giá gà trắng tại các “thủ phủ” chăn nuôi như Đồng Nai, Tây Ninh tụt sâu xuống quanh mốc 26.000 đ/kg, khiến người nuôi chịu lỗ từ 4.000 – 5.000 đ/kg.
Tháng 4- 5/2026 chứng kiến cuộc khủng hoảng thừa nghiêm trọng nhất của ngành trứng tính từ đầu năm. Hệ quả từ việc các trang trại và doanh nghiệp FDI ồ ạt tăng đàn gà đẻ từ cuối năm 2025 đã đẩy sản lượng trứng dội chợ diện rộng. Trứng gà công nghiệp tại hai đầu miền Bắc và miền Nam, giá trứng rớt thảm hại xuống mốc 1.300- 1.500 đ/quả. Trong khi giá thành sản xuất (chi phí cám nuôi, con giống, khấu hao) neo cao ở mức 1.800 – 1.900 đ/quả, mỗi quả trứng xuất chuồng khiến người chăn nuôi chịu lỗ từ 350 – 450 đ/quả. Trứng vịt cũng không thoát khỏi vòng xoáy suy thoái khi chịu áp lực thặng dư nguồn cung nặng nề, giá bình quân toàn quốc dao động ở mức thấp từ 1.870 – 1.950 đ/quả.
Nửa đầu tháng 6/2026 cục diện thị trường thay đổi hoàn toàn chỉ trong 2 tuần đầu tháng 6 khi cán cân cung – cầu thiết lập lại trạng thái cân bằng mới. Làn sóng giảm đàn tự phát từ tháng trước cùng lực cầu thị trường nhích nhẹ đã đẩy giá trứng gà tại 3 miền đồng loạt bứt phá. Miền Nam ghi nhận mức tăng mạnh nhất (+600 đ/quả), đưa giá trứng vượt ngưỡng 2.050 đ/quả, giúp các trang trại chính thức thoát lỗ và bắt đầu có lãi nhẹ.
Các chuyên gia phân tích ngành hàng chỉ ra 4 nguyên nhân cốt lõi đẩy thị trường vào thế bế tắc trong quý I và đầu quý II: Một là, áp lực dội chợ diện rộng, lịch xuất chuồng đồng loạt của các lứa gà, vịt ngắn ngày trùng với thời điểm sản lượng trứng đạt đỉnh, vượt xa khả năng hấp thụ của thị trường. Hai là, sức mua nội địa chạm mốc thấp, lượng tiêu thụ mặt hàng thịt, trứng tại các chợ truyền thống và hệ thống siêu thị lớn (Hà Nội, TP.HCM) giảm mạnh. Tốc độ quay vòng hàng chậm buộc tiểu thương phải liên tục xả hàng giá rẻ. Ba là, bão giá chi phí đầu vào, trái ngược với đà giảm của giá bán, giá thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y bị điều chỉnh tăng liên tiếp từ đầu năm, triệt tiêu dòng tiền của các hộ nuôi nhỏ lẻ. Bốn là tắc nghẽn dòng xuất khẩu, kênh xuất khẩu tiểu ngạch sang thị trường lân cận như Campuchia sụt giảm tiến độ, buộc lượng hàng lớn phải quay đầu tiêu thụ nội địa.
Dự báo cục diện nửa cuối năm 2026
Thị trường được dự báo chưa thể phục hồi nhanh trong ngắn hạn, song sẽ có sự phân hóa và bứt phá rõ rệt theo lộ trình: Giai đoạn tháng 7 – 8/2026 (Thấp điểm hè): Thị trường tiếp tục đi ngang do học sinh nghỉ hè, hệ thống bếp ăn tập thể đóng cửa. Riêng mặt hàng trứng gia cầm được dự báo sẽ bứt phá sớm từ giữa tháng 8 (đầu tháng 7 Âm lịch) nhờ các nhà máy bánh kẹo gom hàng phục vụ mùa vụ Trung thu. Giai đoạn Tháng 9 – cuối năm 2026 (Phục hồi mạnh): Cán cân cung – cầu sẽ tự cân bằng trở lại do làn sóng “treo chuồng” của các hộ thua lỗ trong quý II. Đồng thời, nhu cầu thực phẩm tăng vọt vào mùa lễ hội, cưới hỏi và tích trữ Tết sẽ kích giá gia cầm đảo chiều. Mức giá kỳ vọng: Giá gà trắng dự báo đạt 33.000 – 35.000 đ/kg; gà lông màu và gà ta thả vườn có khả năng tăng mạnh từ 15% – 20% so với đáy khủng hoảng.
Tuy nhiên, người chăn nuôi vẫn cần thận trọng với hai yếu tố có thể làm thay đổi cục diện giá. Giá cám và nguyên liệu nhập khẩu (ngô, đậu tương) dự báo sẽ tiếp tục neo ở mức cao hoặc tăng nhẹ đến cuối năm, gây áp lực trực tiếp lên lợi nhuận. Áp lực dịch bệnh, do thời tiết chuyển mùa cuối năm làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh (như cúm gia cầm), dễ gây biến động thất thường về nguồn cung cục bộ.
Thanh Đức – Thanh Sơn
