Chăn nuôi Việt Nam bứt phá ngoạn mục: [Bài 1] Nhìn lại công nghiệp thức ăn chăn nuôi sau hơn 30 năm
Khoa học công nghệ đã đưa ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi phát triển vượt bậc trong hơn 30 năm qua, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển chăn nuôi.
LTS: Từ một quốc gia chăn nuôi lạc hậu, thiếu trầm trọng thực phẩm, ngày nay, ngành chăn nuôi Việt Nam đã vươn lên đứng hàng đầu khu vực với công nghệ hiện đại, đảm bảo an ninh thực phẩm cho quốc gia. Đóng góp vào sự bứt phá ngoạn mục ấy là dấu ấn của khoa học công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi – thú y.
Từ vài chục nghìn tấn đến hàng chục triệu tấn
Ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi Việt Nam bắt đầu hình thành từ hơn 30 năm trước với một số nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) trong nước. Đây cũng là ngành sớm thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài. Năm 1991, Proconco trở thành công ty liên doanh đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất TĂCN với sự kết hợp giữa Việt Nam và Tập đoàn SCPA của Pháp.

Dù mới hình thành, nhưng trong những năm 1990, ngành công nghiệp TĂCN Việt Nam đã phát triển rất nhanh chóng về quy mô và sản lượng. Nếu như vào năm 1993, tổng sản lượng TĂCN công nghiệp trên cả nước còn rất nhỏ với 68 nghìn tấn thì chỉ 3 năm sau đó đã vượt 1 triệu tấn, tăng hơn 15 lần.
Đến năm 2000, sản lượng TĂCN công nghiệp vượt 2 triệu tấn, rồi đạt hơn 4,5 triệu tấn vào năm 2005. Năm 2010, sản lượng TĂCN vượt 10 triệu tấn, đến 2016 vượt 20 triệu tấn và đạt mức cao kỷ lục hơn 22 triệu tấn vào năm 2025.
Hiện nay, cả nước có 270 nhà máy TĂCN, trong đó các công ty có vốn nước ngoài chiếm 33%, các công ty trong nước chiếm 67% số nhà máy. Về sản lượng, các công ty có vốn nước ngoài chiếm 65% còn trong nước chiếm 35%.
Với sản lượng hiện tại, ngành công nghiệp TĂCN không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu TĂCN trong nước mà còn đẩy mạnh xuất khẩu, qua đó đóng góp lớn vào xuất khẩu của ngành chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung. Năm 2025, xuất khẩu TĂCN và nguyên liệu đạt hơn 1,4 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước tới nay.
Dấu ấn công nghệ
Có thể nói, sự tham gia từ rất sớm của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài (Proconcon từ 1991, C.P. Việt Nam từ 1993, Japfa Comfeed Việt Nam từ 1996…) đã góp phần quan trọng làm thay đổi và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp TĂCN Việt Nam.

Khi đầu tư nhà máy sản xuất TĂCN ở Việt Nam, các doanh nghiệp FDI không chỉ cung cấp vốn đầu tư, mở rộng sản xuất mà đã đưa vào khoa học, công nghệ và phương thức quản lý hiện đại nhất ở thời điểm đó. Điều này không chỉ giúp hình thành những nhà máy TĂCN hiện đại, quy mô lớn ở Việt Nam mà còn tạo áp lực cạnh tranh, bắt buộc các doanh nghiệp TĂCN của Việt Nam phải cải tiến, nâng cấp trình độ khoa học, công nghệ cũng như phương thức quản lý của đơn vị. Nhờ vậy, đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang giữ được khoảng 35% thị phần TĂCN.
Nhìn lại ngành công nghiệp TĂCN hơn 30 năm qua, có 3 thành tựu ứng dụng công nghệ, máy móc vào sản xuất. Trước đây là dây chuyền sản xuất thức ăn bột, hiện nay là dây chuyền sản xuất thức ăn viên và sử dụng máy ép đùn để chế biến nguyên liệu trước khi đưa vào sử dụng.
Không dừng ở đó, nhiều công ty sản xuất TĂCN đang đẩy mạnh tự động hóa và chuyển đổi số trong các nhà máy nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo chất lượng và độ đồng đều sản phẩm, quản lý, truy xuất dữ liệu hiệu quả và phát triển bền vững…
Ông Clemens Tan – Tổng Giám đốc Công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam chia sẻ: “Tại Japfa, chúng tôi đang đẩy mạnh tự động hóa và chuyển đổi số trong các hoạt động sản xuất TĂCN. Công ty đang triển khai các hệ thống như SCADA và các giải pháp nhà máy thông minh nhằm tự động hóa quy trình sản xuất, tăng cường giám sát theo thời gian thực và giảm các thao tác thủ công.
Bên cạnh đó, Japfa cũng đang áp dụng các công nghệ như hệ thống logistics sử dụng RFID và các công cụ quản lý hiệu suất thiết bị như OEE nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và tính minh bạch. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư vào các hệ thống thông minh, tối ưu quy trình và quản trị dựa trên dữ liệu để vận hành ngày càng hiệu quả và ổn định hơn”.
Giảm giá thành chăn nuôi từ công thức tối ưu
Trước đây, chăn nuôi Việt Nam từng được coi là khả năng cạnh tranh thấp so với nhiều nước do giá thành cao. Quá trình đầu tư nghiên cứu về dinh dưỡng vật nuôi để tính toán công thức thức ăn tối ưu đã làm thay đổi điều này.

GS.TS Lã Văn Kính – Phó Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam đánh giá, đã có 6 thành tựu nghiên cứu về dinh dưỡng vật nuôi để tính toán công thức thức ăn tối ưu trong ngành TĂCN Việt Nam. Trước hết là ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng công thức thức ăn tối ưu về giá trị dinh dưỡng với giá thành thấp nhất.
Bên cạnh đó là phân tích thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của các loại nguyên liệu thức ăn để xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc tính toán công thức thức ăn.
Nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hoá hồi tràng tiêu chuẩn về năng lượng, axit amin. Xác định nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm về các chất dinh dưỡng chính từ năng lượng trao đổi đến năng lượng thuần và axit amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn. Nghiên cứu các biện pháp chế biến bảo quản và sử dụng phế phụ phẩm của công nông nghiệp.
Đặc biệt, các thành tựu về nghiên cứu nâng cao sức khỏe đường ruột của vật nuôi như bổ sung men tiêu hóa, probiotic, prebiotic, axit hữu cơ, phytogenic và thảo dược vào công thức thức ăn đã thay thế được kháng sinh, giảm tiêu thụ kháng sinh, giảm kháng sinh thải ra môi trường và giảm nguy cơ đề kháng kháng sinh ở vật nuôi.
GS.TS Lã Văn Kính chia sẻ, quá trình xây dựng công thức thức ăn tối ưu trong ngành TĂCN Việt Nam được nâng cấp thường xuyên, không ngừng cùng với tiến bộ khoa học của thế giới.
Trước đây, khẩu phần ăn chỉ tối ưu dựa vào protein thô, sau đó dựa vào protein tiêu hóa, rồi dựa vào axit amin tổng số đến axit amin tiêu hóa và hiện nay là công thức thức ăn tối ưu dựa vào axit amin tiêu hóa hồi tràng tiêu chuẩn và năng lượng thuần.
Việc ứng dụng các thành tựu nghiên cứu về dinh dưỡng vật nuôi, chế biến, bảo quản thức ăn và tính toán tối ưu hóa công thức thức ăn đã giúp vật nuôi lớn nhanh, sản phẩm nhiều, giảm tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm và giúp vật nuôi tiêu hóa tối đa các nguyên liệu ăn vào, giảm lượng phân, nước tiểu thải ra nên giảm được ô nhiễm môi trường, giảm phát thải nhà kính, tiến tới nền chăn nuôi xanh.
Nếu như vào đầu những năm 2000, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng lợn thịt là 3,5 – 3,8kg và gà thịt công nghiệp là 2,5 – 2,8kg thì đến nay lợn thịt chỉ còn 2,5 – 2,7kg và gà thịt công nghiệp là 1,6 – 1,8kg.
▪️ GS.TS Lã Văn Kính: “Việt Nam cần đầu tư nghiên cứu ứng dụng công nghệ hóa học để sản xuất thức ăn như DCP, MCP, axit hữu cơ… và công nghệ sinh học để sản xuất thức ăn bổ sung như axit amin, enzyme, probiotic…”.
▪️ Từ ngày 27-28/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất, với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan; các cơ quan quản lý, các liên hiệp hội, hội, doanh nghiệp, các nhà khoa học ngành chăn nuôi và thú y trên phạm vi toàn quốc. Hội nghị diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Thanh Sơn
(https://nongnghiepmoitruong.vn/)
