Hiệp hội Gia cầm Việt Nam đề xuất sửa nội dung trong dự thảo Thông tư quản lý giống vật nuôi

Hiệp hội Gia cầm Việt Nam vừa có văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Chăn nuôi và Thú y góp ý dự thảo Thông tư quy định về quản lý giống vật nuôi và sản phẩm giống vật nuôi. Hiệp hội cơ bản thống nhất với dự thảo, đồng thời đề nghị sửa đổi, bổ sung một số nội dung nhằm bảo đảm tính khả thi, phù hợp thực tiễn sản xuất và quản lý.

Theo văn bản số 15/VPA ngày 14/8/2026, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam cho rằng một số quy định trong dự thảo cần được rà soát, điều chỉnh, đặc biệt liên quan đến thời hạn xử lý hồ sơ, quản lý nguồn gen quý hiếm, tiêu chuẩn chất lượng giống, khảo nghiệm và công nhận giống vật nuôi mới.

Đề nghị kéo dài thời gian kiểm tra hồ sơ

Tại Điều 3 của dự thảo, Hiệp hội cho rằng quy định thời hạn 1 ngày làm việc để cơ quan tiếp nhận kiểm tra và thông báo về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ là quá ngắn, khó khả thi đối với hồ sơ gửi qua bưu chính hoặc hồ sơ điện tử có khối lượng tài liệu kỹ thuật lớn.

Theo Hiệp hội, một số hồ sơ có thể kèm theo các tài liệu chuyên môn phức tạp như báo cáo đánh giá tác động nguồn gen, lý lịch hệ phả giống… Do đó, Hiệp hội đề nghị sửa thời hạn này thành 3 ngày làm việc đối với hồ sơ nộp qua bưu chính và 2 ngày làm việc đối với hồ sơ qua môi trường điện tử.

Đề nghị thống nhất đầu mối quản lý nguồn gen quý, hiếm

Đối với Điều 5 về trình tự, thủ tục chấp thuận trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm, Hiệp hội đề nghị xem xét lại quy định giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Theo lập luận của Hiệp hội, nguồn gen quý, hiếm là tài nguyên di truyền có ý nghĩa đối với an ninh sinh học quốc gia. Việc trao đổi, xuất khẩu nguồn gen ra nước ngoài cần được quản lý thống nhất ở cấp quốc gia.

Vì vậy, Hiệp hội đề xuất chuyển thẩm quyền chấp thuận từ Chủ tịch UBND cấp tỉnh sang Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. UBND cấp tỉnh được đề nghị đóng vai trò phối hợp kiểm tra, xác nhận hiện trạng nguồn gen thực tế tại địa phương thông qua cơ quan chuyên môn.

Rà soát quy định về giống thuộc diện bảo tồn, cấm xuất khẩu

Tại Điều 6 và các phụ lục liên quan, Hiệp hội lưu ý tình trạng một số giống vừa được đưa vào diện bảo tồn hoặc cấm xuất khẩu, vừa được xếp trong bảng mức chất lượng thương mại.

Hiệp hội dẫn trường hợp gà Hồ: giống này được đề cập trong danh mục cấm xuất khẩu nhưng đồng thời được xếp vào nhóm gà nội dòng thuần, cấp ông bà trong phụ lục về mức chất lượng giống.

Theo Hiệp hội, cách quy định này có thể gây khó khăn trong việc xác định mục tiêu quản lý. Vì vậy, Hiệp hội đề nghị tách các giống thuộc danh mục bảo tồn, cấm xuất khẩu khỏi bảng mức chất lượng thương mại; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật riêng phục vụ mục tiêu “lưu giữ nguồn gen”, thay vì áp dụng tiêu chuẩn năng suất thương mại.

Cho rằng một số chỉ tiêu gà giống cần được điều chỉnh

Đối với Bảng I và Bảng II, Hiệp hội phản ánh một số chỉ tiêu của gà giống cấp bố mẹ và gà dòng thuần/cấp ông bà có số liệu trùng khớp.

Hiệp hội cho rằng gà cấp bố mẹ thường có ưu thế lai, do đó các chỉ tiêu về sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống và tiêu tốn thức ăn cần thể hiện sự ưu việt so với đàn ông bà.

Từ đó, Hiệp hội đề nghị điều chỉnh các chỉ tiêu của gà cấp bố mẹ theo hướng ưu việt hơn gà cấp ông bà khoảng 3–5%, thay vì sử dụng các số liệu trùng lặp.

Riêng chỉ tiêu tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà con của Nhóm 2, dự thảo đang quy định ở mức 86%, trong khi các nhóm khác là 95%. Hiệp hội cho rằng mức 86% là thấp so với thực tế sản xuất và có thể làm giảm yêu cầu chất lượng đối với con giống. Hiệp hội đề nghị điều chỉnh tỷ lệ này lên ít nhất 92%.

Đề nghị điều chỉnh chỉ tiêu đối với gà nội Nhóm 5

Đối với gà nội Nhóm 5, trong đó có các giống như Đông Tảo, Hồ Chọi, Hiệp hội cho rằng mức khối lượng quy định trong dự thảo chưa phản ánh phù hợp tốc độ sinh trưởng thực tế.

Cụ thể, dự thảo quy định khối lượng con trống ở thời điểm 8 tuần tuổi từ 0,8–1,7 kg và khối lượng khi kết thúc hậu bị từ 1,8–3,3 kg. Hiệp hội cho rằng khoảng thời gian hậu bị kéo dài từ 15–23 tuần khiến mức khối lượng trên có thể không phù hợp với tốc độ phát triển của một số giống.

Hiệp hội đề xuất điều chỉnh khối lượng kết thúc hậu bị của con trống Nhóm 5 lên 2,5–3,5 kg.

Đề nghị tăng tính xã hội hóa trong cập nhật danh mục giống bảo tồn

Tại Điều 7 và Điều 9, Hiệp hội cho rằng việc chỉ quy định định kỳ 3 năm một lần rà soát, cập nhật danh mục giống vật nuôi cần bảo tồn là chưa đủ linh hoạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và dịch bệnh diễn biến nhanh.

Hiệp hội đề nghị cho phép các tổ chức, cá nhân và hiệp hội nghề nghiệp gửi đề xuất cập nhật danh mục bất kỳ thời điểm nào khi phát hiện giống vật nuôi có nguy cơ suy giảm theo các tiêu chí quy định. Đồng thời, đề nghị rút thời gian lập hồ sơ cập nhật định kỳ từ 3 năm xuống 2 năm một lần.

Đề nghị thống nhất đầu mối khảo nghiệm, công nhận giống mới

Một nội dung đáng chú ý khác là kiến nghị tại Điều 10 và Điều 11 về phân cấp công nhận dòng, giống vật nuôi mới.

Hiệp hội cho rằng việc giao cơ quan chuyên môn cấp tỉnh quyết định công nhận kết quả khảo nghiệm có thể dẫn tới khác biệt trong tiêu chí đánh giá giữa các địa phương, trong khi giống vật nuôi sau khảo nghiệm có phạm vi ứng dụng trên toàn quốc.

Hiệp hội đề xuất nếu vẫn duy trì quy định khảo nghiệm giống vật nuôi mới thì cần thống nhất đầu mối theo dõi khảo nghiệm và công nhận dòng, giống vật nuôi mới tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường, với Cục Chăn nuôi và Thú y là đầu mối.

Theo đề xuất này, cơ quan cấp tỉnh tập trung vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động khảo nghiệm trên địa bàn. Báo cáo giám sát kết quả khảo nghiệm có xác nhận của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh sẽ được gửi về Cục Chăn nuôi và Thú y để thẩm định một lần.

Hiệp hội đồng thời đề nghị nghiên cứu giảm bớt thủ tục hành chính trong việc khảo nghiệm, công nhận giống mới, tạo điều kiện để doanh nghiệp và hiệp hội chủ động xây dựng chương trình nhân giống, đưa các giống có chất lượng ra thị trường.

Bổ sung điều kiện quản lý cơ sở đào tạo thụ tinh nhân tạo

Tại Điều 13, Hiệp hội cho rằng dự thảo cần bổ sung quy định quản lý chất lượng đối với các cơ sở đào tạo thụ tinh nhân tạo.

Theo Hiệp hội, việc mở rộng đối tượng được đào tạo và cấp chứng chỉ cần đi kèm yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành, giáo trình và năng lực của người giảng dạy nhằm hạn chế nguy cơ đào tạo không đạt chuẩn.

Hiệp hội đề nghị bổ sung quy định các tổ chức đào tạo phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, giáo trình và giảng viên chuyên ngành theo quy định pháp luật về giáo dục nghề nghiệp; đồng thời trước khi tổ chức đào tạo phải thông báo bằng văn bản đến Cục Chăn nuôi và Thú y để hậu kiểm.

Hiệp hội cũng đề nghị bổ sung đầy đủ Phụ lục VI và Mẫu số 15 liên quan đến chứng chỉ đào tạo thụ tinh nhân tạo và chứng chỉ đào tạo kỹ thuật cấy truyền phôi để bảo đảm tính đầy đủ của hồ sơ pháp lý trước khi ban hành.

Đề nghị thay cách quy định “thời gian sử dụng” lợn đực giống

Đối với Phụ lục V, Hiệp hội cho rằng việc quy định “thời gian sử dụng” lợn đực giống dựa chủ yếu vào số năm tuổi, chẳng hạn giống ngoại không quá 3 năm tuổi và giống nội không quá 4 năm tuổi, chưa phản ánh đầy đủ chất lượng khai thác thực tế.

Theo Hiệp hội, thời gian khai thác lợn đực giống cần được đánh giá dựa trên chất lượng tinh trùng thực tế như hoạt lực, nồng độ… thay vì chỉ căn cứ vào tuổi.

Do đó, Hiệp hội đề nghị sửa quy định theo hướng xác định thời gian khai thác tối thiểu để bảo đảm khấu hao chi phí dòng giống, hoặc bỏ hoàn toàn chỉ tiêu “Thời gian sử dụng” theo số năm tuổi và chuyển sang kiểm soát chất lượng tinh tại hiện trường.

Với các nội dung nêu trên, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung dự thảo Thông tư nhằm bảo đảm tính khoa học, thống nhất và phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi.

Xem chi tiết nội dung Văn bản số 15/VPA ngày 14/8/2026 của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam tại đây.

Ban Truyền thông VPA

error: Content is protected !!