Mỹ cho phép sử dụng hoạt chất Ractopamine trong chăn nuôi, EU cấm tuyệt đối, Việt Nam khảo nghiệm kết quả ra sao?

Mỹ, Canada, Úc và một số nước trên thế giới cho phép sử dụng hoạt chất Ractopamine trong chăn nuôi. Tuy nhiên, tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nga và Việt Nam, Ractopamine đã bị cấm sử dụng. Chính điều này đã tạo ra nhiều tranh luận giữa các nhà khoa học trên thế giới.

Ngày 31/3, Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức hội nghị “Sử dụng phụ gia thức ăn chăn nuôi trong chăn nuôi”, thu hút sự tham gia của nhiều cơ quan quản lý, chuyên gia, hiệp hội và doanh nghiệp trong ngành.

Mỹ cho phép sử dụng Ractopamine, còn EU cấm tuyệt đối

Xuyên suốt hội nghị, vấn đề “nóng” nhất được đưa ra tranh luận, đó là câu chuyện sử dụng hoạt chất Ractopamine trong chăn nuôi. Hội nghị bắt đầu từ 8h30 nhưng đến 13h mới kết thúc. Nhiều câu hỏi được gửi đến các chuyên gia quốc tế, trong đó, một số nhà khoa học thuộc Hội Chăn nuôi Việt Nam, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam vẫn còn đặt nhiều hoài nghi về hiệu quả và tồn dư của Ractopamine trên vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi.

Theo đó, Ractopamine là chất thuộc nhóm beta-agonist (bao gồm các chất clenbuterol, salbutamol và ractopamine), nhóm hormon tăng trưởng bị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cấm sử dụng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm tại nước ta từ nhiều năm nay.

Nghịch lý là rất nhiều nước trên thế giới lại cho dùng chất Ractopamine, trong đó có Mỹ, Canada, Úc và đây là những nước Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn thịt gà, bò, heo… trong nhiều năm qua.

Ông George Tice, Cố vấn khoa học độc lập về chính sách châu Âu (EU) cho hay, EU đang cấm tuyệt đối hoạt chất Ractopamine trong chăn nuôi.

Tại hội nghị, các chuyên gia quốc tế đã cung cấp bức tranh toàn diện về cách tiếp cận và quản lý Ractopamine trên thế giới, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các quốc gia.

Theo bà Ashley A. Johnson, Giám đốc Chính sách Thực phẩm (Hội đồng quốc gia các nhà sản xuất thịt heo Hoa Kỳ), Ractopamine là hoạt chất chính trong “Paylean” Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt Paylean vào năm 1999.

Ractopamine giúp tăng tỷ lệ thịt nạc ở heo bằng cách điều hướng dinh dưỡng khỏi quá trình tích lũy mỡ, an toàn cho vật nuôi, người tiêu dùng và người chăn nuôi. Các nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy, khi sử dụng đúng quy trình, Ractopamine an toàn đối với vật nuôi, người tiêu dùng và môi trường. Tiêu chuẩn về tồn dư cũng đã được Ủy ban Codex Alimentarius thiết lập từ năm 2012, làm cơ sở cho quản lý an toàn thực phẩm trên phạm vi quốc tế.

Ngược lại, ông George Tice, Cố vấn khoa học độc lập về chính sách châu Âu (EU) cho biết, EU không chấp nhận Ractopamine, lý do đưa ra đó, là, dựa trên nguyên tắc phòng ngừa rủi ro. EU cấm sử dụng các chất thuộc nhóm beta-agonist cho mục đích tăng trưởng và không chấp nhận nhập khẩu các sản phẩm liên quan. Cách tiếp cận này chịu ảnh hưởng từ các khủng hoảng an toàn thực phẩm trong quá khứ, khiến EU ưu tiên kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ niềm tin người tiêu dùng.

Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 978,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, giá trị ước khoảng 2 tỷ USD. Ảnh: Nguyễn Hạnh

Theo ông George Tice, vào những năm 1980 – Các vụ bê bối về gian lận thực phẩm xảy ra, trong đó, phát hiện thuốc nguy hiểm (DES – diethylstilbestrol) trong thực phẩm dành cho trẻ em, đồng thời lạm dụng chất beta agonist (clenbuterol) trong thịt bò. Chính điều này khiến EU cấm tất cả việc sử dụng các chất kích thích tăng trưởng (hormone, thyrostat và các chất beta-agonist) từ khi sinh ra đến khi giết mổ tại các quốc gia thành viên và các đối tác thương mại.

Chính những quy định trên tạo ra sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận – quản lý dựa trên đánh giá rủi ro khoa học và quản lý theo nguyên tắc phòng ngừa – đang tạo ra những rào cản trong thương mại quốc tế, đồng thời đặt ra bài toán cho các quốc gia như Việt Nam trong việc lựa chọn hướng đi phù hợp.

Kết quả khảo nghiệm Ractopamine ở Việt Nam thế nào?

Chính lý do các quốc gia trên thế giới còn có quan điểm khác nhau về Ractopamine, vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Tập đoàn Dabaco đã thực hiện khảo nghiệm Ractopamine và ảnh hưởng của Ractopamine đến năng suất chất lượng thịt lợn tại Việt Nam.

Bà Lê Thị Minh Thu, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dabaco cho biết, đơn vị đã khảo nghiệm sử dụng Ractopamine trên 5.440 lợn thịt, trong đó, sử dụng 475 tấn thức ăn bổ sung Ractopamine được sản xuất và kiểm soát.

Kết quả khảo nghiệm cho thấy, tăng trọng bình quân gần như không có sự khác biệt, qua đó khẳng định không phải là chất kích thích sinh trưởng. Tuy nhiên, Ractopamine giúp giảm 0.053mm mỡ bụng, tăng 0,23% tỷ lệ móc hàm; hiệu quả chuyển hóa thức ăn, giảm khoảng 106g thức ăn/kg tăng trọng và giảm 1.361 đồng chi phí thức ăn/kg.

Bà Lê Thị Minh Thu, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dabaco thông tin về kết quả khảo nghiệm Ractopamine trên 5.440 lợn thịt của Tập đoàn.

Trên cơ sở đó, Tập đoàn Dabaco đề xuất quy trình sử dụng trong giai đoạn vỗ béo, kết hợp thời gian ngừng trước xuất bán nhằm kiểm soát tồn dư. Đây được xem là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ quá trình đánh giá và xây dựng chính sách.

Đồng thời, lãnh đạo Tập đoàn Dabaco cho hay, vì đây là khảo nghiệm mới thực hiện lần đầu nên còn nhiều khía canh cần làm rõ. Tập đoàn đề xuất được nhập khẩu tiếp 4 tấn Ractopamine để triển khai khảo nghiệm lặp lại ở quy mô toàn bộ trang trại nuôi heo thịt tại Công ty Dabaco Tuyên Quang.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho hay, việc sử dụng Ractopamine cần tiếp cận khách quan, dựa trên bằng chứng khoa học.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, với sự khác biệt trong quan điểm quản lý giữa các quốc gia, vì vậy, Ractopamine vẫn đang là vấn đề còn nhiều tranh luận trên thế giới. Tuy nhiên, cần tiếp cận khách quan, dựa trên bằng chứng khoa học. Theo đó, hoạt chất này có thể góp phần cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn, tăng trọng và chất lượng sản phẩm.

Để có cơ sở thực tiễn, Bộ NN&MT đã chỉ đạo doanh nghiệp triển khai các thí nghiệm đánh giá trong điều kiện Việt Nam, làm căn cứ xây dựng chính sách phù hợp. Thứ trưởng nhấn mạnh quan điểm: không nên áp dụng tư duy “không quản được thì cấm”, mà cần lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt, dựa trên nguyên tắc an toàn sinh học và hiểu rõ các yếu tố kỹ thuật.

Chính sách đối với phụ gia TĂCN, theo đó phải được xây dựng trên nền tảng khoa học, thực tiễn và tham chiếu các chuẩn mực quốc tế, nhằm đảm bảo cân bằng giữa phát triển sản xuất, an toàn thực phẩm và yêu cầu hội nhập.

Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y Phạm Kim Đăng, để có căn cứ sử dụng Ractopamine tại Việt Nam cần tiếp tục triển khai các nghiên cứu, thí điểm nhằm xây dựng danh mục và cơ chế kiểm soát phù hợp.

Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y Phạm Kim Đăng cho biết, vấn đề Ractopamine đã được thảo luận trong nhiều hội nghị trước đây nhưng đến nay vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, các thông tin tại hội nghị lần này được đánh giá là đầy đủ, minh bạch, phản ánh toàn diện cả góc nhìn của các quốc gia cho phép và không cho phép sử dụng.

Hiện nay, khoảng 27 quốc gia đã cho phép sử dụng Ractopamine. Tại Việt Nam, hoạt chất này trước đây từng nằm trong danh mục cấm, hiện đã được loại bỏ khỏi danh mục này nhưng cũng chưa được đưa vào danh mục cho phép sử dụng. Trong khi đó, một số quy định về mức tồn dư đối với thịt nhập khẩu đã được thiết lập, như mỡ dưới 10 ppb và thịt dưới 40 ppb, song chưa có quy định cụ thể cho việc sử dụng trong nước.

Thực tế này dẫn đến những băn khoăn từ phía doanh nghiệp khi cho rằng việc chưa cho phép sử dụng trong nước nhưng vẫn nhập khẩu sản phẩm từ các quốc gia có sử dụng Ractopamine có thể tạo ra sự cạnh tranh chưa thực sự công bằng.

Theo ông Phạm Kim Đăng, để giải quyết vấn đề này, cần tiếp tục triển khai các nghiên cứu, thí điểm nhằm xây dựng danh mục và cơ chế kiểm soát phù hợp. Việc cho phép doanh nghiệp thực hiện khảo nghiệm bước đầu là hướng đi cần thiết để bổ sung dữ liệu thực tiễn.

Bên cạnh đó, việc xem xét cho phép hay tiếp tục hạn chế sử dụng cần dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn và năng lực quản lý. Cơ quan quản lý cũng lưu ý phải kiểm soát chặt chẽ, tránh tình trạng sử dụng tràn lan khi mở cửa.

“Quá trình xây dựng chính sách cần tiếp tục được thảo luận tại các diễn đàn khoa học, nhằm đảm bảo hài hòa giữa yêu cầu quản lý, phát triển sản xuất và tạo điều kiện cho doanh nghiệp”, ông Phạm Kim Đăng nhấn mạnh.

Số liệu từ Cục Hải quan cho thấy, trong năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 978,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, giá trị ước khoảng 2 tỷ USD. So với năm trước đó, nhập khẩu nhóm mặt hàng này tăng 11,6% về lượng và tăng 12,2% về giá trị.

Theo đó, Ấn Độ vẫn là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 19,29% trong tổng lượng nhập khẩu mặt hàng này của cả nước, đạt 188,7 nghìn tấn, trị giá 681,32 triệu USD. Tuy nhiên, so với năm 2024, nhập khẩu từ Ấn Độ giảm 2,8% về lượng, nhưng tăng 5,6% về giá trị.

Tiếp theo, Nga, Brazil, Mỹ, Úc, Canada cũng là những thị trường cung cấp lớn cho nước ta. Trong đó, nhập khẩu thịt và sản phẩm từ thịt từ Nga tăng 59,1% về lượng và tăng 59,4% về giá trị; nhập khẩu từ Brazil có mức tăng lần lượt là 42,7% và 57,3%; còn nhập khẩu từ Mỹ và Úc giảm.

Ngoài ra, năm 2025 nước ta cũng tăng mạnh nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam từ Ba Lan, Hàn Quốc, Đức, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Pháp, Trung Quốc…

Theo Minh Ngọc (danviet.vn)

error: Content is protected !!