Ngành gia cầm 6 tháng đầu năm 2026: Sản lượng tăng, áp lực dư cung bủa vây
Dù ghi nhận đà tăng trưởng ổn định về tổng đàn và sản lượng trong nửa đầu năm 2026, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam vẫn phải chật vật chống đỡ áp lực dư cung cục bộ, khiến giá bán ở nhiều phân khúc lao dốc.

Toàn cảnh thị trường gia cầm 6 tháng đầu năm 2026
Tính đến 30/6/2026, tổng số đàn gia cầm cả nước ước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, gà công nghiệp lông trắng là nhóm tăng trưởng mạnh nhất, do các công ty lớn liên tục vận hành tối đa công suất chuồng trại khép kín. Ước sản lượng thịt đạt khoảng 580.000 – 600.000 tấn, tăng từ 7% – 8% so với cùng kỳ năm trước. Gà lông màu ước tính khoảng 420.000 – 440.000 tấn, tốc độ tăng đàn chậm hơn do chu kỳ nuôi dài và người nuôi e dè biến động thị trường từ năm trước. Vịt thịt đạt khoảng 180.000 – 190.000 tấn. Xu hướng chuyển dịch từ nuôi gà sang vịt tăng nhanh trong quý II khiến nguồn cung thủy cầm dồi dào đột biến. Trứng gia cầm đạt kỷ lục hơn 10,8 tỷ quả trong 2 quý đầu năm, tăng trung bình 4,8% – 5%.
Do sự tăng trưởng tổng đàn nhanh từ cuối năm 2025 kéo dài sang đầu năm 2026, sức tiêu thụ nội địa không kịp hấp thụ dẫn đến áp lực cung vượt cầu lớn trên diện rộng. Phân khúc gà công nghiệp lông trắng có chu kỳ nuôi ngắn (khoảng 40-45 ngày) chịu ảnh hưởng nặng nhất. Tại khu vực phía Nam, giá gà trắng dội chợ có thời điểm lao dốc sâu xuống mức 22.000 – 24.000 đồng/kg, rơi xuống dưới giá thành sản xuất. Thị trường gà lông màu và vịt thịt tiêu thụ có sự phân hóa rõ rệt. Giá gà màu nuôi dài ngày giữ mức điều chỉnh tăng nhẹ ở miền Nam, trong khi giá vịt thịt tại miền Bắc có xu hướng giảm nhanh vào giai đoạn giữa năm do nguồn cung xuất chuồng dồi dào.
Bảng tổng hợp giá xuất chuồng bình quân tại các vùng chăn nuôi trọng điểm (đơn vị: đồng/kg đối với thịt hơi, đồng/quả đối với trứng)
| Tháng
(2026) |
Gà công nghiệp lông trắng (đ/kg) | Gà lông màu ngắn ngày (đ/kg) | Vịt thịt siêu thịt (đ/kg) |
Trứng gà đỏ/trắng tại trại (đ/quả) |
|
Tháng 1 |
29.000 – 31.000 | 48.000 – 52.000 | 38.000 – 43.000 2.000 – 2.200 | |
|
Tháng 2 |
28.000 – 30.000 | 46.000 – 50.000 | 36.000 – 41.000 |
1.800 – 2.000 |
|
Tháng 3 |
27.000 – 29.000 | 45.000 – 48.000 | 35.000 – 40.000 |
1.600 – 1.800 |
|
Tháng 4 |
26.000 – 29.000 | 44.000 – 45.000 | 34.000 – 39.000 |
1.460 – 1.530 |
|
Tháng 5 |
25.000 – 27.000 | 42.000 – 45.000 | 32.000 – 38.000 |
1.000 – 1.500 |
|
Tháng 6 |
24.000 – 26.000 | 41.000 – 43.500 | 29.000 – 35.000 |
1.200 – 1.800 |
Tổng sản lượng gà giống nhập khẩu lũy kế 2 quý đầu năm 2026 đạt khoảng 1,2 – 1,5 triệu con gà giống. Trong đó gà giống bố mẹ hướng thịt (chủ yếu là gà lông trắng) đạt khoảng 850.000 – 900.000 con. Tốc độ nhập khẩu có xu hướng giảm nhẹ vào giai đoạn cuối quý II do giá gà trắng thương phẩm trong nước giảm sâu (xuống 24.000 – 26.000 đồng/kg), khiến các doanh nghiệp chủ động giãn tiến độ vào đàn bố mẹ. Gà giống bố mẹ hướng trứng đạt khoảng 150.000 – 180.000 con, phục vụ duy trì và thay thế đàn gà đẻ trứng thương phẩm trong nước. xuất khẩu ngược (sang các thị trường như Campuchia, Lào). Giá nhập khẩu giống gà trắng bố mẹ (Cobb, Ross) cập bến (giá CIF) dao động từ 4,5 – 5,5 USD/con (khoảng 115.000 – 140.000 đồng/con gà bố mẹ 1 ngày tuổi), đối với gà hướng trứng bố mẹ giao động từ 4,0 – 5,0 USD/con (khoảng 100.000 – 128.000 đồng/con).
Nguồn giống ông bà, bố mẹ được nhập khẩu chính ngạch từ các quốc gia có công nghệ di truyền hàng đầu như Hoa Kỳ, Anh, Pháp và các nước EU.
Tổng sản lượng vịt giống nhập khẩu đạt khoảng 80.000 – 100.000 con (bao gồm cả dòng ông bà và bố mẹ). Trong đó vịt siêu thịt chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 75% lượng vịt giống nhập khẩu). Vịt hướng trứng đạt khoảng 15.000 – 20.000 con, nhập khẩu chủ yếu để cải thiện năng suất đẻ trứng của các giống vịt nuôi tại địa phương. Pháp và các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) tiếp tục là đối tác cung cấp vịt giống vịt lớn nhất cho Việt Nam.
Bảng tổng hợp thị phần nước cung ứng con giống 6 tháng đầu năm 2026
| Loại con giống | Nước cung ứng chính | Tỷ lệ ước tính | Chủng loại giống chủ yếu |
| Gà giống | Hoa Kỳ (Mỹ) | 40% – 42% | Gà giống bố mẹ hướng thịt (gà trắng) |
| Vương quốc Anh và EU | ~ 35% | Gà giống hướng trứng, gà bố mẹ cao sản | |
| New Zealand | 12% – 15% | Gà giống ông bà, bố mẹ an toàn sinh học cao | |
| Vịt giống | Pháp | > 80% | Vịt siêu thịt dòng Grimaud (ông bà/bố mẹ) |
| Các nước khác | < 20% | Vịt giống hướng đẻ trứng công nghiệp |
Tổng sản lượng thịt gà nhập khẩu lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước tính khoảng 185.000 – 195.000 tấn các loại, với tổng giá trị kim ngạch đạt khoảng 190 – 205 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ tăng trưởng mạnh mẽ, ghi nhận mức tăng từ 26% – 37,6% so với cùng kỳ do lộ trình cắt giảm thuế quan từ các hiệp định FTA.
Cơ cấu thịt gà nhập khẩu vào Việt Nam tập trung chủ yếu ở dạng đông lạnh cắt mảnh (mã HS 020714) và phụ phẩm ăn được. Trong đó, đùi gà đông lạnh chiếm tỷ trọng cao nhất, đạt khoảng 130.000 – 140.000 tấn (gần 71,5% tổng lượng thịt gà nhập khẩu). Đây là mặt hàng có giá thành rẻ nhất, cạnh tranh trực tiếp với gà trắng nội địa tại các bếp ăn tập thể. Cánh gà đông lạnh đạt khoảng 22.000 – 25.000 tấn (chiếm khoảng 12% tỷ trọng), phục vụ chủ yếu cho các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh và nhà hàng. Chân gà và phụ phẩm khác đạt khoảng 16.000 – 18.000 tấn (chiếm khoảng 8,7% tỷ trọng). Thịt gà đông lạnh nguyên con chiếm tỷ lệ nhỏ nhất, dao động khoảng 3.500 – 5.000 tấn (khoảng 2% tỷ trọng).
Nguồn cung thịt gà của Việt Nam phụ thuộc chính vào 3 khu vực lớn có nền công nghiệp chăn nuôi quy mô lớn:

Hoạt động xuất khẩu thịt gia cầm và trứng của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 ghi nhận những bước đột phá mang tính lịch sử về cả thị trường xuất khẩu lẫn sản lượng. Đây được coi là “phao cứu sinh” hỗ trợ đắc lực giúp giải tỏa áp lực dư cung dội chợ của thị trường chăn nuôi nội địa.
Tổng sản lượng xuất khẩ lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.800 – 5.200 tấn thịt gia cầm các loại (tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025). Giá trị kim ngạch xuất khẩu thịt gà 6 tháng ước tính cán mốc 45 – 48 triệu USD. Thịt gà chế biến chín (như gà hầm, gà rán, ức gà áp chảo đông lạnh) chiếm tỷ trọng áp đảo trên 85% giá trị xuất khẩu nhờ chiến lược chuyển dịch từ “xuất thô” sang chăn nuôi khép kín tích hợp theo chuỗi 3F.
Nhật Bản tiếp tục là đối tác lớn nhất (chiếm trên 50% thị phần), theo sau là Hồng Kông, Campuchia (mạnh về gà trắng giống và gà màu thịt), cùng các nước khu vực Trung Đông. Tháng 4/2026, Việt Nam chính thức hoàn tất đàm phán và bắt đầu xuất khẩu thịt gà chế biến sang Hàn Quốc. Đây là “tấm vé thông hành” nâng tầm thương hiệu quốc tế cho các tổ hợp lớn như CPV Food Bình Phước.
Nhóm hàng trứng gia cầm ghi nhận bước tiến lớn trong việc kiểm soát chất lượng kỹ thuật để bước chân vào các quốc gia khó tính bậc nhất.Tổng sản lượng xuất khẩu ứớc đạt khoảng 38 – 42 triệu quả trứng các loại (bao gồm trứng tươi, trứng muối, trứng bắc thảo và trứng chế biến ăn liền). Ngày 18/06/2026, Việt Nam chính thức xuất khẩu container trứng gia cầm ăn liền đầu tiên (172.000 quả) sang Nhật Bản thông qua thương hiệu VFood (sau gần 2 năm chuẩn bị kỹ thuật). Sự kiện Nhật Bản cấp hạn ngạch nhập khẩu là cột mốc khẳng định độ an toàn dịch bệnh tuyệt đối của chuỗi trứng nội địa. Hồng Kông tiếp tục dỡ bỏ các lệnh cấm và là cửa ngõ tiêu thụ trứng muối lớn nhất của Việt Nam, bên cạnh Singapore.
Dự báo cục diện 6 tháng cuối năm 2026
Thị trường gia cầm Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2026 sẽ vận động dựa trên sự dịch chuyển lớn về cơ cấu nguồn cung và áp lực chi phí đầu vào. Dưới đây là phân tích chi tiết định lượng về năng lực sản xuất và diễn biến thị trường theo từng chủng loại:
Dự báo năng lực sản xuất và chuyển dịch cơ cấu tổng đàn: Quy mô tổng đàn giảm nhẹ sau khủng hoảng thừa. Sau giai đoạn tăng trưởng nóng đẩy tổng đàn tăng 3,1% – 3,5% trong nửa đầu năm 2026, quy mô tổng đàn gia cầm cả nước dự báo sẽ thu hẹp khoảng 1,5% – 2% trong quý III/2026. Sự sụt giảm này chủ yếu do các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chủ động giảm đàn khi giá bán liên tục nằm dưới giá thành.
Thị phần dịch chuyển mạnh về các doanh nghiệp lớn: Thị trường sản xuất chứng kiến sự phân cực rõ rệt. Khối nông hộ nhỏ lẻ tiếp tục giảm sút mạnh. Ngược lại, nguồn cung dài hạn sẽ nằm trong tay các tập đoàn chăn nuôi khép kín (như De Heus, Japfa, CJ, CP) nhờ ưu thế tối ưu chi phí cám và kiểm soát dịch bệnh theo chuỗi an toàn sinh học.
Phân khúc gà trắng công nghiệp (Gà lông trắng): Đây là phân khúc nhạy cảm nhất với thị trường và chịu sức ép lớn từ thịt gà nhập khẩu. Tuy nhiên, giá gà trắng dự kiến phục hồi sớm nhất nhờ chu kỳ nuôi ngắn (chỉ 30 – 35 ngày) giúp thị trường tự điều tiết cung nhanh chóng. Dự báo giá gà trắng xuất chuồng tại các tỉnh Đông Nam Bộ sẽ thoát đáy vùng 25.000 – 28.000 đ/kg để vươn lên neo ổn định ở mức 33.000 – 35.000 đ/kg từ cuối quý tháng 8 năm 2026 nhờ nhu cầu từ các nhà máy chế biến suất ăn công nghiệp quay trở lại.
Phân khúc gà lông màu và gà ta thả vườn: Các dòng gà màu có chu kỳ nuôi dài hơn (khoảng 90 – 100 ngày) nên nguồn cung phục hồi chậm hơn. Áp lực dội chợ giảm dần sau tháng 7 âm lịch. Nhu cầu tiêu thụ sẽ bùng nổ mạnh mẽ vào quý IV/2026 phục vụ mùa cưới hỏi, tiệc cuối năm và chuẩn bị Tết Nguyên Đán. Giá các giống gà màu chủ lực như gà ta lai, gà Mía dự kiến tăng mạnh 15% – 20% so với giai đoạn đầu năm, neo cao ở mức từ 55.000 – 70.000 đ/kg. Các hộ nuôi giống gà bản địa chất lượng cao (gà thả vườn, gà đặc sản) sẽ đạt biên lợi nhuận tốt nhất.
Phân khúc vịt thịt phụ thuộc lớn vào thời tiết và luồng luân chuyển thương lái giữa các miền. Vào mùa mưa lũ quý III, việc chạy đồng gặp khó khăn có thể làm giảm tạm thời nguồn cung vịt thịt thương phẩm tại Miền Tây và Miền Trung. Dự báo giá vịt thịt bình quân dao động quanh mức 42.000 – 48.000 đ/kg. Thị trường có thể xuất hiện các đợt sốt giá cục bộ ngắn hạn tại miền Bắc vào giai đoạn giao mùa cuối thu.
Phân khúc trứng gia cầm (Trứng gà, trứng vịt): Trứng gia cầm sẽ là mặt hàng thiết lập đà lội ngược dòng ngoạn mục nhất. Nửa đầu năm, giá trứng chạm đáy sâu 1.100 – 1.200 đ/quả khiến người nuôi lỗ nặng. Tuy nhiên, chu kỳ sản xuất trứng phục vụ Trung thu bắt đầu từ tháng 8 sẽ giải phóng hoàn toàn lượng hàng tồn kho. Giá trứng tại chuồng được dự báo tăng mạnh trở lại, thiết lập mặt bằng giá mới từ 2.000 – 2.500 đ/quả. Mức giá này giúp người chăn nuôi gà đẻ trứng thu hồi vốn nhanh và đạt mức lợi nhuận khá tốt cho đến hết năm.
Minh Khôi (Tổng hợp)
